Làng Gốm Bát Tràng

Hiển thị các bài đăng có nhãn Bac Ho. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bac Ho. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Nặng lòng với dòng gốm cổ


Nặng lòng với dòng gốm cổ
Update: 25.02.2011

Blog Battrang 360*  - Sinh năm 1977, tuy là người khuyết tật nhưng anh Phạm Anh Đạo ở xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm đã là chủ một gia sản mà không phải thanh niên bình thường nào cũng có được. Anh còn được xem là một trong những người thợ gốm Bát Tràng đầu tiên quay lại truyền thống với nghề gốm vuốt và nặn bằng tay.

Không được may mắn học hành thành đạt như chúng bạn cùng trang lứa nên ngay từ nhỏ, anh Đạo đã đam mê học nghề gốm truyền thống bằng sự cảm nhận tinh tế của bàn tay khéo léo. Đạo còn nhớ, khi mới cưới vợ, bố mẹ cho ra ở riêng khó khăn trăm bề. Lúc đó, kinh tế hộ làm gốm ở Bát Tràng đang sa sút vì sản phẩm của địa phương bị gốm công nghiệp lấn át, nhiều thợ giỏi trong làng bỏ hẳn nghề của tổ tiên truyền dạy, xoay sang làm gốm theo kiểu công nghiệp. Riêng anh vẫn đeo đuổi sản phẩm vuốt bằng tay dù lúc đó rất khó cạnh tranh với hàng công nghiệp. Anh cho rằng, nếu ai cũng chỉ vì thu nhập mà bỏ nghề cổ truyền thì làm gì còn bản sắc riêng của Bát Tràng, nên dù khó đến mấy anh cũng cố giữ lấy nghề và để khắc phục được điểm yếu này, vợ chồng anh chỉ chuyên sản xuất một dòng sản phẩm nhất định cho một số khách hàng "ruột".

Ngoài sản xuất theo mẫu do khách đặt, những lúc rảnh rỗi, Đạo lại tự nghĩ, tự làm những mẫu anh thích như phục chế gốm hoa nâu Lý - Trần, gốm men lam, men nước dưa, nước dong, men rạn… Anh còn mày mò làm chóe, thạp, ấm tích, độc bình với những nét hoa văn độc đáo… Một trong những sản phẩm tiêu biểu là đôi choé cao trên 2m, 2 người ôm không xuể vừa góp mặt tại triển lãm làng nghề chào mừng Hà Nội 1000 năm tuổi được khách trong và ngoài nước khen ngợi.

Với ý chí "tàn nhưng không phế", Phạm Anh Đạo đã tích cực góp phần thuyết phục nhiều thợ gốm Bát Tràng quay lại với nghề vuốt gốm cổ truyền thống, tạo cho làng nghề những sắc thái riêng biệt. Vì thế, mỗi dịp làng có hội hay khách quý ghé thăm, anh Đạo đều được mời biểu diễn kỹ thuật vuốt gốm bằng tay và hiện anh là người thợ giỏi nghề gốm vuốt và nặn bằng tay có tuổi đời trẻ nhất làng với doanh thu mỗi năm hàng tỷ đồng. Sản phẩm của anh không chỉ được nhiều doanh nghiệp trong nước ưa chuộng mà còn xâm nhập được những thị trường khó tính như Nhật Bản và các nước Tây Âu. Với những đóng góp tích cực cho sự phát triển của làng nghề, anh Đạo đã được nhiều cấp, nhiều ngành tặng bằng khen, giấy khen.
Minh Liễu
Posted by Gia Thanh


Blog Battrang 360*

Thứ Tư, 23 tháng 2, 2011

Muốn cho hồn dân tộc được thăng hoa


Nghệ nhân làng gốm Bát Tràng Vũ Đức Thắng: “Muốn cho hồn dân tộc được thăng hoa”
Update: 23.02.2011



 Blog Battrang 360*  - Sinh ra và lớn lên tại làng nghề làm gốm nổi tiếng – xứ Bát Tràng, nghệ nhân Vũ Đức Thắng đã say mê tìm tòi, lao động và cống hiến cho chính cái nghề mà cha ông để lại, để như ông nói, “muốn cho hồn dân tộc được thăng hoa”.
Phóng viên Laodong.com.vn đã có cuộc trò chuyện đầy thú vị với ông.
- Đã sống và gắn bó với mảnh đất làm gốm Bát Tràng, chắc hẳn cái “nghiệp gốm” của ông cũng xuất phát từ đó?
Gia đình tôi cũng như bao gia đình khác trong làng, khi con cái lớn lên đều bày được cha mẹ bày vẽ cho cách thức làm gốm. Ngày nhỏ, ngoài thời gian đi học, hàng ngày tôi vẫn phụ gia đình làm gốm. Nhưng những lúc đó chưa hề có ý thức hay ý định sau này sẽ tiếp nối nghề như bây giờ đâu.
Kể cả sau này học xong Cao đẳng Mỹ thuật công nghiệp, nhưng tôi lại học bên khoa hội họa. Ra trường, vì chưa tìm được công việc bên ngành hội họa nên về làng nghề làm gốm để kiếm sống. Và không ngờ, từ chỗ mình làm để mà sống dẫn đến sự đam mê thực sự.
Nói thật là, cũng phải đến những năm 26, 27 tuổi thì những ý thức về nghề mới bắt đầu đến độ chín thực sự.
- Để có được những tác phẩm gốm đầy tài hoa, theo ông, người nghệ nhân cần tích góp được những điều gì?
Không riêng gì nghề gốm mà theo tôi trong tất cả các ngành nghề khác, người nghệ nhân muốn làm một sản phẩm tốt phải xuất phát từ lòng yêu nghề. Ngoài ra còn sự dấn thân, quả quyết và một yếu tố nữa là luôn làm mới mình.
Ở mỗi tác phẩm gốm gửi gắm tất cả những nhiệt huyết của người nghệ nhân vào từng sản phẩm – những đứa con tinh thần. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thôi thì tôi e rằng chỉ đạt được một cái gì đó cứ bình bình, cái tôi muốn nói xa hơn là tự làm mới mình tức luôn biết nắm bắt nhu cầu, thị hiếu và thị trường.
Nhưng suy cho cùng, theo tôi, tất cả phải gắn với cái hồn của dân tộc, nghề gốm là nghề truyền thống của dân tộc nên nó chỉ đẹp khi mang những nét của dân tộc mình.
- Trên con đường gắn với nghề làm gốm của mình, ông cho rằng, làm gốm ứng dụng hay làm gốm nghệ thuật sẽ là con đường đi tốt nhất?
Câu hỏi mà bạn đặt ra không chỉ là một câu hỏi khó đối với riêng nghề gốm mà còn với nhiều nghề truyền thống khác nữa.
Thực tế những năm tôi vừa tốt nghiệp ngành hội họa, tôi đã quay về làm gốm ở nhà nhưng cũng chỉ làm những sản phẩm ứng dụng để bán, hoàn cảnh gia đình không cho phép chất nghệ sĩ trong mình bay bổng được. Mãi đến sau này, khi ổn định hơn một tý, tôi cũng đã tính đến làm những sản phẩm gốm nghệ thuật để thỏa mãn phần nào những sáng tạo của mình. Và không ngờ, sau cuộc triển lãm đầu tiên, những sản phẩm đó đã bán được với giá rất cao. Tôi nhận ra răng, làm gốm nghệ thuật là một con đường đi hẹp, nhưng không phải là không có lối thoát.
Như bạn thấy đấy, thời bây giờ đời sống mọi người đã khá giả hơn, người ta cũng có nhu cầu thưởng thức cái đẹp cao hơn chứ.
- Đã được nhiều người biết đến với tài đắp nổi và khắc hoa văn trên gốm, vốn không ít nghệ nhân làm được, gần đây người ta lại biết anh với tư cách là tác giả của những chiếc bình gốm có khắc thơ (bằng cả chữ Nôm và chữ Hán). Có phải anh đang muốn kết hợp hai cái “hồn dân tộc” lại với nhau? 
Lúc tôi nhận lời đề nghị của Hội Nhà văn làm những cái bình gốm có khắc thơ để trưng bày tại Văn Miếu Quốc Tử Giám trong dịp Ngày thơ Việt Nam thì thời gian quá ngắn. Tôi không giám chắc là mình sẽ thành công. Biết bao điều rủi ro có thể xảy ra trong quá trình làm, khó khăn nhất là việc khắc thơ lên gốm, gồm cả chữ Hán, chữ Nôm. Tuy mạo hiểm nhưng mình vẫn kiểm soát được bằng sự lựa chọn táo bạo, nghiêm túc. Cứ nghĩ đến việc những đứa con tinh thần của mình được trưng bày ở nơi trang nghiêm nhất để mọi người chiêm ngưỡng thì lòng tôi lại thôi thúc.
Sự kết hợp giữa gốm và thơ, cũng là một sự kết hợp đầy thú vị đấy chứ!
Đây lại là một trong những chương trình hướng tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội nên tôi đã rất tâm huyết khi làm những sản phẩm này.
- Nhắc đến 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, xin hỏi ông cùng những nghệ nhân của làng gốm Bát Tràng đã chuẩn bị những gì cho dịp đại lễ long trọng này, thưa ông?
Năm ngoái tôi đã đúc xong 2 bình gốm khổ lớn cao gần 1m đều được đắp nổi hoa văn. Một bình là những sự kiện lịch sử nổi tiếng của dân tộc, một bình lại là những địa danh, thắng cảnh đẹp và là biểu trưng của đất nước.
Càng gần đến ngày Đại lễ, càng có nhiều công việc phải làm. Loạt sản phẩm sẽ trưng bày trong Triển lãm làng nghề truyền thống mà những tác phẩm đặc sắc nhất sẽ được tặng cho UBND TP Hà Nội…
Tôi cùng những người nghệ nhân ở Bát Tràng đang cố gắng dốc hết sức lực góp công vào để quảng bá hình ảnh làng gốm nói riêng và thủ đô Hà Nội nói chung trong những tháng năm lịch sử này.
Xin cảm ơn ông!

Thái Anh (thực hiện)
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*


Thứ Ba, 22 tháng 2, 2011

Kỷ lục Việt Nam: Chiếc chóe men rạn lớn nhất


Kỷ lục Việt Nam: Chiếc chóe men rạn lớn nhất
Update: 22.02.2011

Blog Battrang 360*  - Kích thước của chiếc chóe cao 2,4m (từ đỉnh đến chân), đường kính 1,25m, nặng 200kg.

Chiếc chóe gồm hai bộ phận: thân và nắp chóe được các người thợ làng nghề làm theo dạng men rạn giả cổ. Trên thân vẽ tích "Vinh quy bái tổ" với màu lam cổ. Kích thước của chiếc chóe cao 2,4m (từ đỉnh đến chân), đường kính 1,25m, nặng 200kg.
Vào thời phong kiến, người học trò sau thời gian dùi mài kinh sử đều mong được đến ngày "Vinh quy bái tổ". Đây không chỉ là mong ước "Ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau"của các sĩ tử ngày xưa mà còn thể hiện đạo lý "uống nước nhớ nguồn" với tấm lòng kính nhớ tổ tiên, bái tạ người thầy đã dạy dỗ mình nên người và tri ân quê hương chôn nhau cắt rốn.
Cảm xúc trước tích chuyện thời xưa, anh Lê Minh Ngọc và những người thợ ở xóm 1, thôn Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, Hà Nội đã thực hiện một chiếc chóe men rạn có kích thước lớn mà trên thân chóe thể hiện tích chuyện này. Chiếc chóe gồm hai bộ phận: thân và nắp chóe được các người thợ làng nghề làm theo dạng men rạn giả cổ. Trên thân vẽ tích "Vinh quy bái tổ" với màu lam cổ. Kích thước của chiếc chóe cao 2,4m (từ đỉnh đến chân), đường kính 1,25m, nặng 200kg.
Theo 24h
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*

Thứ Sáu, 18 tháng 2, 2011

Men gốm men người


Men gốm men người
Update: 18.02.2011

Blog Battrang 360*  - Anh Huy, bạn tôi, một người làm gốm ở làng Bát Tràng nhắn mời sang uống trà. Nghĩ bụng, chạy ba quãng đồng để uống chén trà, chắc hẳn phải là trà gì đặc biệt đây. Mùa đông mưa phùn gió bấc, nể bạn, lặn lội sang. Trà ngon đã đành nhưng đường sá xa xôi bỗng hoá gần là vì một lẽ khác. Anh mới ra lò, một bộ ấm chén mới, còn nóng, pha ấm trà đầu, đãi khách.
Anh Huy, sinh ra ở Bát Tràng, lớn lên đi học trường Bách khoa, ngành silicat rồi về làm ở xí nghiệp gốm Bát Tràng một mạch mấy chục năm cho đến khi nghỉ hưu. Nhưng dẫu sao đó cũng chỉ là đi làm, làm gốm, làm việc, việc chung thôi. Lúc về hưu, lúc nghỉ mới là được làm, làm cho mình. Người yêu gốm, yêu đất, yêu lửa, yêu nước như anh Huy thì khi được trở về với mình tức là trở về với đất, với lửa, với nước. Mấy cụ già mê đọc Trang Tử thường kể câu chuyện quả bầu khô dùng đựng rượu, giữa cái vỏ và phần khoảng không bên trong chẳng biết phần nào quan trọng hơn, phần nào để nói về cái sự “tề vật luận”. Anh Huy là người thủ cựu nhưng nhược điểm này lại là ưu điểm, nó cũng hay như tính thích cải cách của người khác.
Chuyện là thế này, độ mười năm gần đây, cả làng Bát Tràng có phong trào, phá lò hộp, đốt bằng than để thay thế bằng lò gas. Rẻ thì chưa chắc nhưng rõ là nhanh, tiện, sạch sẽ, lửa ổn định, chất lượng sản phẩm đồng đều. Ấy thế nhưng anh Huy không những không lắp lò gas theo phong trào mà cũng không xây lò hộp, anh “giật lùi” hẳn hai bước, âm thầm làm một cái lò bầu, đốt củi. Đây chính là loại lò, là phương pháp nung gốm cổ truyền của gốm Việt Nam nói chung và gốm Bát Tràng nói riêng. Những kiệt tác trong di sản gốm Việt từ men ngọc đời Lý, gốm hoa nâu đời Trần, gốm vẽ men lam, xanh chàm của Lê, Mạc rồi đồ gốm đắp nổi, men rạn đều nung bằng lò bầu, đốt củi.
Nhân đây cũng muốn nói thêm, sau mười năm Bát Tràng chuyển sang dùng lò gas, gốm Bát Tràng vẫn chưa có sản phẩm nào đủ đẹp có thể nối tiếp được truyền thống, ngoài việc tận dụng ưu thế kỹ thuật ổn định của nhiệt, chủ động được nhiệt để làm ra những sản phẩm to cao, to nhưng xấu, hình như càng xấu càng phải to để bù đắp. Nào là lọ, chum, choé, vại, vò,… nhà nào cũng thi nhau làm to, giá bán cao không phải vì đẹp mà vì sản phẩm to. Tất nhiên mốt thích to không chỉ có ở gốm, ở Bát Tràng và qua đây cũng thấy cái lỗi hám to cũng không chỉ do người làm ra sản phẩm mà do cả ở những người tiêu dùng hôm nay.
Trở lại chuyện anh Huy, anh không phải là người cố tình bảo thủ, cố tình đi ngược xu thế chung, anh cũng không ý thức về việc “hand made”. Anh tâm sự: cách tân không chỉ là bỏ cũ sang cái mới mà là làm mới truyền thống, trước tiên là khôi phục lại kỹ thuật truyền thống, từ đất, men, lửa (lửa của lò bầu đốt bằng củi). Ví dụ muốn phục chế men ngọc thì bắt buộc phải nung bằng lò bầu, chất kiềm (kalihydroxit – KOH và natrihydoxit – NAOH) tự nhiên trong củi sẽ làm cho màu xanh ngọc trong và sâu, lò gas không làm được. Những tác phẩm men ngọc của gốm Lý có nhiều cung bậc, ngọc nước dưa, ngọc màu nước rau muống luộc, ngọc màu quả bí, tất cả đều gần gũi và duyên. Rồi lại nghĩ đến gốm Bát Tràng hôm nay. Thèm được nhẩm một câu trong bài hát nào đó của Trịnh Công Sơn, “lòng chợt bình yên mà sao buồn thế”. Anh Huy kể, làm một cái lò bầu, nhỏ thôi nhưng chẳng dễ gì, tất cả đều chỉ có một mình, không hỏi ai được, những người già đều đã “ra đi” hết cùng với kinh nghiệm của họ, những người trẻ quen với tư duy nhanh nhiều tốt rẻ của lò gas, với họ truyền thống là phụ, đẹp là phụ. Nếu như không muốn nói, họ đã hoàn toàn đứt đoạn với truyền thống. Phần lớn những nghệ nhân hôm nay, dù có sắc phong chính thức nhưng bản chất là danh hão và phẩm chất chính là phá hoại tinh tuý của gốm Bát Tràng.
Anh Huy không nản lòng vì trước tiên và trên hết anh làm vì sự thôi thúc cá nhân, làm cho mình thôi. Những mẻ lò đầu tiên hoàn toàn thất bại. Tình yêu gốm trong máu thịt mách bảo anh rằng, thất bại đấy nhưng nó sẽ qua và đây là con đường đúng đắn. Linh cảm là điều khó lý giải, anh Huy kiên nhẫn đi tiếp. Để tìm được sự hài hoà giữa đất, lửa, nước đâu dễ. Tự làm lò, tự chế đất (không mua sẵn), tự mua củi, tự chẻ, tự đi mua rơm về đốt làm men tro, tự nặn, tự vuốt từng sản phẩm một. Làm tay từ đầu đến cuối, hoàn toàn nguyên liệu tự nhiên củi lửa, men thuốc. Hình như cái sự một mình, sự cô độc cũng là sức mạnh.
Lửa của lò gas rất đều, sạch không bụi bặm. Sản phẩm đều tăm tắp, rất tốt cho làm hàng loạt, nó là hàng hoá, là mỹ nghệ, trau chuốt, nuột nà, giống nhau như đúc. Ưu điểm là ở đó và nhược điểm cũng là ở đó.
Đồ gốm của anh Huy nặn tay từng chiếc, không dùng khuôn, men tự nhiên, không dùng hoá chất công nghiệp, nhiệt độ đốt bằng củi lò bầu nhiều may rủi, chỗ táp lửa, chỗ ám khói, chỗ hoàn nguyên, chỗ chín già, chỗ non, men chỗ dày chỗ mỏng do dấn bằng tay, không phun bằng máy… nên nhiều tình cờ, gốm của anh Huy đẹp là do ngẫu nhiên, không lặp lại, đó là vẻ đẹp của đơn bản.
Ngồi uống chén trà pha bằng bộ ấm mới ra lò. Anh Huy nhẩn nha nói với tôi nhiều chuyện, chuyện người, chuyện nghề, chuyện về làng gốm Bát Tràng đã nghìn năm tuổi. Băn khoăn nhất vẫn là chuyện kỹ thuật, tay nghề, chất liệu, nay đã tốt hơn nhưng gốm Bát Tràng không đẹp hơn.
Một chút mưa, một chút lạnh, một chút bâng khuâng, tiếc nuối của những ngày cuối năm, một chút lửa, một chút hơi ấm của lò bầu đốt bằng củi. Không hiểu sao những một chút đó khiến tôi miên man nghĩ sang chuyện khác, chuyện bảo tồn, chuyện di sản. Ai là người sẽ lưu giữ ký ức của những làng nghề? Đâu chỉ Bát Tràng, nào là giấy dó ở Dương Ổ, Hà Bắc, đúc đồng Đại Bái, sơn quang dầu ở Cát Đằng, nghề bạc ở Đồng Sâm, Thái Bình… chả nhẽ cái mới đến sẽ làm mất dần những cái cũ, chả nhẽ suốt 1.000 năm còn giữ được thế mà chỉ có mấy chục năm gần đây mọi thứ lại mất nhiều và nhanh như vậy.
Trước khi chia tay, anh Huy bảo, sở dĩ màu men tro của Bát Tràng đẹp thế, riêng thế là bởi vì, trước khi ra lò vài tiếng, tôi cho vào lò mấy đoạn nứa. Trong quá trình cháy, chất muối natriclorua (NaCl) tự nhiên trong ruột cây nứa tiết ra, cho dù chỉ là vi lượng sẽ thấm vào lớp men áo sắp chín làm ra màu men đặc thù của gốm Bát Tràng. Nếu như không có những người như anh Phạm Ngọc Huy, say men gốm, say gốm để phục chế và lưu giữ lại những ký ức này, những tinh hoa này thì… làng Bát Tràng vẫn còn, vì những mất mát li ti như vậy ít ai thấy, không dễ thấy nhưng nó lại là hồn cốt của cả một nghề, một làng nghề.
Nguồn: Báo Sài Gòn Tiếp thị
Posted by Gia Thanh

Blog Battrang 360*

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2011

Câu chuyện "Bác Hồ về thăm làng Gốm" giờ mới kể


Update: 06.02.2011

Blog Battrang 360* - Trước năm 1961 xã Bát Tràng là xã Quang Minh gồm 3 thôn Bát Tràng, Giang Cao và Kim Lan. Hiện nay xã Bát Tràng có 2 thôn : Giang Cao và Bát Tràng, thuộc huyện Gia Lâm - thành phố Hà Nội
Theo cuốn lịch sử cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân xã Bát Tràng ( 1930 - 2000) thì diện tích toàn bộ xã là 164 ha với 1628 hộ và 6655 nhân khẩu. Về địa lý, xã Bát Tràng nằm bên tả ngạn sông Hồng, phía Bắc giáp xã Đông Dư , phía đông giáp xã Đa Tốn, phía nam giáp xã Xuân Quan ( huyện văn giang, tỉnh Hưng Yên ) Phía tây là sông Hồng . Xã Bát tràng cách trung tâm thành phố Hà Nội 12km.
Xã Bát tràng có làng nghề gốm sứ cổ truyền là làng Bát Tràng, cũng như mọi làng quê Việt Nam, làng Bát Tràng có nhiều công trình kiến trúc như đình, chùa, đền, miếu, văn chỉ... chứng minh cho một làng quê văn hiến. Làng Bát tràng từ xa xưa đã nổi tiếng là đất học, đất làng nghề có nhiều người đỗ đạt , khoa bảng . Văn Miếu Quốc Tử Giám, Văn miếu Huế và Văn Miếu Bắc Ninh ( trước 1961 làng Bát Tràng thuộc tỉnh Bắc Ninh) đã ghi danh các bậc đại khoa của làng Bát Tràng gồm một trạng nguyên , tám tiến sĩ, mười quận công. Đầu thế kỷ 20, xã Bát tràng có nhà chí sĩ cách mạng Phạm Văn Tráng tham gia Việt Nam Quang Phục Hội của cụ Phan Bộ Châu, cùng đồng đội tiêu diệt viên tuần phủ gian tỉnh Thái Bình và đã hi sinh anh dũng. Nhiều người làng Bát Tràng đã tham gia Việt Minh, cùng nhân dân nổi lên cưới chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Làng Bát tràng cũng là nơi in ấn bài hát tiến quân ca của nhạc sĩ Văn Cao, sau này là Quốc ca của nước ta. trong kháng chiến chống pháp giữa vòng vây kìm kẹp của kẻ thù, người dân làng Bát Tràng vẫn hướng về Đảng và Bác Hồ kính yêu, không ngại hy sinh gian khổ, tích cực tham gia chiến đấu , phá tề trừ gian, chống giặc càn. trong kháng chiến chống Mỹ, dân quân tự vệ Bát tràng đã đánh trả máy bay Mỹ ném bom vào thôn bát tràng. Thanh niên Bát tràng đã xung phong vào bộ đội và đi khắp mọi miền Đất nước để bảo vệ Tổ quốc. Làng Bát tràng có nhiều Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các thương binh liệt sĩ trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và chống Mỹ cứu nước nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Tháng 8 năm 1958, TW Đảng và Chính phủ quyết định đào sông Bắc Hưng Hải nhằm phục vụ tưới tiêu cho 3 tỉnh đồng bằng Bắc Bộ ( Bắc Ninh, Hưng yên, Hải Dương). Do việc đào sông, xã Quang Minh được tách thành hai xã: Xã Bát Tràng và xã Kim Lan.
Để phục vụ cho đào sông Bắc Hưng Hải, phải di chuyển một nửa thôn Bát Tràng ra chỗ đất mới. Trong đó, có hơn 200 ngôi nhà cổ, một ngôi chùa, các lò nung đồ gốm sứ và các cơ sở sản xuất lâu đời...
Trong tình hình các hộ dân đã di chuyển ra chỗ ở mới, mới chỉ có một số hộ dân xây dựng được nhà cửa , còn một số hộ đang chuẩn bị xây dựng nơi ăn chốn ở và cơ sỏ sản xuất thì Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng.
Bác Hồ về thăm làng gốm Bát Tràng.
Sáng ngày 20-2-1959, nhân dân xã Quang Minh ( Tên xã ở thời điểm đó) vô cùng phấn khởi được đón Bác Hồ về thăm làng Bát Tràng. Cùng đi với Bác có các cán bộ của xã và huyện. Rất đông dân làng nô nức đón Người, vô cùng sung sướng được ngắm nhan dung Bác và đi theo người đến thăm các nơi.
Trên đường vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Bác ghé thăm nhà ông lang Tự ( Nguyễn Trọng Đức, đã mất vào năm 1983). Nhà ông Tự đã được di chuyển ra chỗ đất mới và xây dựng xong. Ông lang Tự và con trai đi làm vắng nhà, chỉ có 2 con gái, cô chị là Nguyễn Thị Trâm 13 tuổi., cô em gái Nguyễn Thị Oanh 9 tuổi đang chơi ngoài sân, theo Bác vào Nhà.
Bác hỏi:
- Ba mẹ đi đâu rồi ?
- Thưa Bác, thầy cháu và anh cháu đi làm, u cháu đi chợ.
Bác ngắm, đọc bức hoành phi và đôi câu đối ở ngoài hiên nhà thờ. Bác bảo hai cô gái.
- Các cháu nói với ba mẹ là treo câu đối không đúng vị trí, phải đổi câu bên trái sang bên phải.
Bác xuống nhà dưới, mở lồng bàn để xem mâm cơm của gia đình.
Lúc đó chưa đến bữa ăn nên mâm cơm chỉ có bát rau muống luộc. Sau ngày Bác về thăm, ông Lang Tự đã treo lại câu đôi như lời bác dặn.
Bác rời nhà ông lang Tự, vào thăm HTX sản xuất gốm sứ Minh Châu. Thời gian đó HTX này là mô hình sản xuất gốm sứ tiến bộ nhất của làng Bát Tràng, có nội dung và hình thức gần giống như một công ty cổ phần ngày nay. Tiền thân của HTX là tập đoàn sản xuất Minh Châu được thành lâp bởi một số thợ làm thuê tập hợp nhau lại và đóng góp cổ phần. Ban đầu, tập đoàn chỉ có 30 người. Trong vòng 2 năm, tập đoàn này đã phát triển thêm được gần 50 người nữa. Tháng 10 năm 1957, tập đoàn chuyển thành HTX sản xuất Minh Châu. Tháng 8-1959, HTX hợp nhất với các xí nghiệp gốm công ty hợp doanh thành xí nghiệp sứ Bát Tràng . HTX sản xuất Minh Châu chỉ được thông báo vào hôm trước là sẽ có lãnh đạo của TW về thăm. Sáng hôm sau Bác đã về . Tất cả các xã viên đều sản xuất bình thường.
Bác đi qua khu bể lọc đất rồi vào khu sản xuất đứng xem anh Vũ Văn Vinh ( sinh năm 1941, hiện nay đã 63 tuổi đã nghỉ hưu) in bát. Vì cảm động quá và còn ít tuổi nên anh Vinh in ra một bát còn hơi méo rồi đặt lên bàn sản phẩm.
Bác hỏi:
- Khi nung chín ra, bát có méo không ?
- Thưa Bác , bát cũng méo ạ!
- Thế thì phải làm lại!
Bác quay sang chỗ anh Trần văn Tửu ( sinh năm 1940, đã nghỉ hưu) đang tiện tiện bát ( một công đoạn sản xuất sau khi in bát và để khô) và hỏi:
- Mỗi ngày cháu tiện được bao nhiêu cái bát?
Anh Tửu hồi hộp quá nên không trả lời được. Một anh cán bộ huyện trả lời.
- Thưa Bác , được 300 cái ạ!
_ Như thế có ít không? Có thể gấp hai được không ?
Rồi Bác đi ra sân, xem chị Nguyễn Thị Kiểm ( Gọi theo tên chồng là Định, năm nay 74 tuổi đã nghỉ Hưu dấn men phủ Bát . Lúc đó là mùa Xuân nhưng vẫn còn rét, công nhân phải đun nước nóng để pha vào huyễn dịch men sứ cho khỏi giá. Một cán bộ huyện Gia Lâm cầm chậu để đi lấy nước nóng.
- Để các công nhân làm, kẻo chú làm hỏng mất!
Chị Định còn mải ngắm Bác nên Bác nói:
- Cứ làm đi cháu , khéo không đổ vỡ.
Xem xong , bác hỏi chị Định:
- Các cháu làm thế này, thu nhập có cao không ? Sản phẩm có chất lượng không ?
Mọi người chỉ mải nhìn Bác nên không ai biết trả lời như thế nào.
Cuối cùng, Bác bá vai anh Phùng Ngọc Oanh ( hiện 71 tuổi, đã nghỉ hưu) là chủ nhiệm HTX Minh Châu, căn dặn :
- Các cháu cố găng sản xuất hàng hoá sao cho nhiều, nhanh, tốt, rẻ để phục vụ nhân dân!
Bác Hồ rời khỏi HTX trong tiếng hô của mọi người
Hồ chủ tịch muôn năm!
Bác rẽ xuống thăm nhà ông Lang Xương( Lê Văn Xương đã mất) làm nghề Đông dược. Nhà ông lang Xương cũng đã được xây dựng xong ở chỗ đất mới.
Bác thấy trong nhà có mâm cơm, mổ lồng bàn ra xem. bác thấy cơm trắng , đậu rán, rau muống luộc, cà muối. Bác khen nhà có cơm ngon. Rồi Bác ngồi xuống phản gỗ, nói chuyện với ông lang. Bác thấy các lọ và hộp tủ đựng thuốc có dán nhãn tên thuốc bằng chữ Hán, Bác bảo:
- Chú phải dán tên thuốc bằng chữ Quốc ngữ ở dưới chữ Nho để khi chú đi vắng , người nhà bốc thuốc cứu người.
Bác lại hỏi:
- Chú có đắt hàng không?
- Thưa Bác, không được đắt lắm ạ !
Bác nói:
- Thế thì tốt, hàng thuốc mà đắt thì dân có nhiều người bệnh. Bác ngoặt sang một ngôi nhà 2 tầng gần đấy cũng đã được xây dựng xong.
Bác hỏi
- Đây là nhà ai?
Ông Trần Văn Tuý ( nguyên Phó chủ tịch xã Bát Tràng đã mất )
- Thưa Bác, nhà ông Phạm Huy Giáp đi bộ đội về ạ !
Bác vào thẳng gian hàng giữa nhà và thấy chăn chiếu trên giường được xếp gọn gàng. bác hỏi bà Trần Thị Vinh ( vợ ông Giáp , nay đã 83 tuổi) :
- Gia đình ta có mấy người?
- Thưa Bác, có 5 người cháu, 2 vợ chồng và một mẹ già , tổng cộng là 8 người ạ!
Bác nói;
- Thế thì có quá nhiều con.
Ngày 2- 09 - 2002, gia đình ông Phạm Huy Giáp đã lập bia đá gắn và ở tường trước ngôi nhà mà Bác đã đến thăm để kỷ niệm ngày Bác về thăm Gia đình .
Ra khỏi nhà ông Giáp, Bác vào nhà bà Nguyễn Thị Bùi ( gọi theo tên chồng là bà Tín, đã mất) chưa xây dựng xong nhà ở tại khu đất mới.
Bác hỏi:
- Sao cô chưa làm nhà?
- Thưa Bác, chưa có vôi ạ!
Thế là hôm sau, bà Tín có vôi làm nhà.
Cuối cùng , Bác trở lại để nói chuyện với dân làng. Trên khu đất có một đường goòng chạy đến cửa sông Bắc Hưng Hải để chở vật liệu và dụng cụ cho việc xây dựng cửa sông này. có một chiếc cầu cao bằng gỗ vượt qua đường gòong để anh chị em công nhân chất đồ xuống xe goòng. Dân làng muốn Bác Hồ đứng trên cầu vượt để nói chuyện với nhân dân.
Bác bảo các cán bộ lãnh đạo huyện và xã:
- Các cô chú cho Bác ra chỗ nào rộng!
Bác ra khoảng đất rộng trước HTX mua bán cho nhân dân trong xã (nay là Trạm Y tế thôn Bát Tràng), Anh Trần Văn Tửu vào một gia đình ở gần đó, mượn một cái bàn gỗ nhỏ , dài chừng 1,2m và cùng mấy người khiêng ra chỗ đất rộng để Bác đứng nói chuyện với dân làng. Mọi người đứng xung quanh Bác, yên lặng và trật tự để nghe Bác nói chuyện .
Bác hỏi thăm dân làng và nói:
- Nhà nước đào sông Bắc Hưng Hải làm mất đi một phần đất của làng Bát Tràng, các cụ và dân làng có vui lòng không hay không đồng ý? Việc di chuyển vừa qua, tình hình xây dựng nơi ăn chốn ở của các gia đình như thế nào? Làng Bát Tràng cũng như xã Quang Minh trong những năm qua hoạt dộng và công tác có thành tích ra sao?
Ai nghe cũng ngẩn người ra, không biết nói gì vì chỉ ngắm Bác và nghe Bác nói. Cụ Phùng Văn Chạnh ( đã mất) thay mặt dân làng báo cáo:
- Dân làng sản xuất rất tốt , thành tích so với năm 1957-1958 gấp rưỡi, không ai bị đói, làng Bát tràng không những giải quyết việc làm cho dân mà còn cho cả bà con ở các nơi khác.
Bác bảo:
- Thế thì tốt, Bác nghe bác cáo dân làng đã chuyển một nửa làng ra khu đất mới. Vậy tất cả bà con đã xây dựng được nhà mới chưa ?
- Thưa Bác , đã xây dựng được 80%. bà con phấn khởi, an tâm, không ai thắc mắc gì cả ạ !
- Dân làng đã phải giúp đỡ nhau để ai cũng làm nhanh được nhà mới.
Mọi người đồng thanh nói:
- Vâng ạ!
Bác Hồ căn dặn:
- Bát Tràng là một làng nghề phát triển. Các cô chú phải xây dựng đường sá rộng rãi để xe chở nguyên liệu về làng và chở hàng hoá đi, làng phải có giao thông thuận lợi . Bác căn dặn: "Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một làng kiểu mẫu của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa".
Sau đó Bác chúc sức khoẻ các cụ và dân làng rồi ra xe, rời khỏi làng Bát Tràng.
Theo lời Bác dặn , các gia đình ở các đường cái đều lùi vào nhà 1m, còn các gia đình ở đường phụ đều lùi vào 5 m. Một tuần sau đó, thư ký của Bác về hỏi ông Trần Văn Tuý xem nhân dân đã lùi nhà vào chưa? Ông Tuý đưa thư ký của Bác đi xác minh và công nhận dân làng đã làm đúng theo lời Bác chưa?
Theo: Sơ lược lịch sử Bát Tràng
Posted by Gia Thanh

BLOG BATTRANG 360*


Tra cứu nội dung Blog Battrang 360*